Dùng dằng từ tháng giêng đến tháng chạp, Yên đành thực hiện lời hứa muộn màng. Lúc Yên về đến nhà cô Chi trời đã nhá nhem tối, mọi người đang ngồi quanh mâm cơm  để giữa chiếu trải trên nền đất ngoài hàng hiên. Họ ngoái nhìn ra ngõ khi chó sủa rộ lên, thấy Yên đứng cạnh giậu bông trang, giỏ xách lớn túi xách con đùm đề đặt bên chân. Dượng nhìn thấy Yên trước nhất, hay ít ra là người lên tiếng trước tiên:

-         Bé Yên hả? Rửa tay vô ăn cơm, con.

Giọng nói không tỏ ra buồn hay vui, mừng rỡ chân thật hay bãi buôi. Giọng nghe khàn khàn hơn xưa, đệm mấy tiếng ho khục khặc ở cuối câu. Yên bỏ đồ đạc ngoài ngõ, muốn chạy lại mâm cơm như hồi nhỏ đã buông ngay đồ chơi hàng quán mà chạy lại đón chén cơm từ tay cô Chi.

Hồi xưa cô Chi chờ chồng nói một câu “Bé Yên vô ăn cơm” là vội vàng đứng lên đi lấy thêm cái chén đôi đũa. Khi Yên bước lên thềm, nước rửa mặt rửa tay còn chảy ròng ròng, cô Chi kéo chiếc khăn vắt vai lau mặt mũi Yên, đặt vào tay Yên chén cơm đầy có miếng măng kho hay đậu đũa xào. Yên ăn vơi nửa chén thì cô chan thêm canh cho đầy lại. Thành ra Yên không cần phải gắp thêm đồ ăn gì nữa. Quen vậy, ăn ở nhà khác Yên cũng chỉ ăn cái có trong chén mình mà thôi, nghe chủ nhà nói “gắp đồ ăn tự nhiên đi cháu”, Yên “dạ” nhưng không dám đưa đũa ra khỏi chén của mình. Họ nói “Mấy đứa mồ côi khôn sớm”. Nhờ cái “khôn”  đó, Yên ăn chực hết nhà chú rồi đến nhà cô, nhà trong xóm và cả nhà thầy Lâm. Hôm nào thầy thu tập làm văn cả lớp về kiểm tra thì thầy giao cho Yên ôm chồng vỡ theo thầy về nhà. Bao giờ thầy cũng hỏi câu đầu tiên khi bước vô cửa: “Cơm nước xong chưa em?” Bao giờ cô cũng đáp: “Dạ, cơm dọn rồi.” Và thầy sẽ quay lại bảo Yên: “Sẵn bữa, con đi rửa tay rồi vô ăn cơm”.

Yên lúc ấy chưa tới mười tuổi, thân hình nhỏ xiú, thì ăn được bao nhiêu! Ai cũng nghĩ vậy nên không ai tính là nhà mình đã nuôi Yên bao nhiêu bữa. Còn Yên thưở ấu thơ ấy, khi đói bụng mà đang chơi ở nhà nào thì cứ sẵn bữa nhà đó mà ăn, thấy chuyện mọi người cho mình ăn là bình thường. Tới hồi học xong trường làng, Yên thi đậu vào trường trung học tỉnh, mọi việc mới thay đổi.

Mọi người đều có mặt trong đám giỗ cha Yên, kể cả thầy Lâm, vốn là bạn của cha. Thầy nói bé Yên là học sinh duy nhất của làng này được tuyển vô lớp bồi dưỡng năng khiếu của trường trung học tỉnh, không thể bỏ lỡ cơ hội này. Cả họ, và cả lối xóm, người nào cũng từng kêu Yên vô ăn cơm chung mâm, không ai bàn ra là con gái thì cần gì học cao, chờ vài năm nữa lớn lên đi lấy chồng. Mọi người, kể cả chú Tư, chú Út, đều là dân mần ruộng mần rẫy, chuyện học hành chữ nghĩa không ai muốn tranh cãi với thầy giáo. Nhưng cũng không ai có được ý kiến gì về chuyện đi lên tỉnh học của Yên. Con cái họ, có đứa lớn hơn Yên, có đứa nhỏ hơn Yên, có đứa sàng sàng tuổi Yên, học xong trường làng thì ra đồng lùa vịt thả trâu, rồi học cày bừa cấy gặt. Có miếng ruộng miếng đất ông bà để lại, chịu khó theo nghề nông thì  chắc phần no cơm ấm cật. Nếu Yên được ra tỉnh học hành thì cũng thơm lây cả họ, nhưng…

Yên còn nhớ hôm ấy mình ngồi trên thềm nhà chú Út, ngôi nhà hương hoả, mười mấy đứa anh em họ đứng lố nhố chung quanh, nhóng vào gian nhà thờ chánh, nơi mười mấy người đàn ông của gia tộc, lớn nhất là ông Sáu Bang, trẻ nhất là chú Út, đang bàn bạc quyết định số phận của Yên. Mấy bà, mấy thím, và cô Chi cũng thập thò ở cửa buồng, thỉnh thoảng có người bưng nước lên rồi nấn ná nghe ngóng để xuống bếp thuật lại.  Yên ngồi ngay đơ ở bậc thềm, toàn thân căng thẳng, mím môi, nhắm mắt, tập trung vô một lời khấn vái lập đi lập lại ngàn lần: “Ba má linh thiêng phù hộ cho con đi học.”    

Bảy năm trung học, Yên ở trọ nhà cô Quí là chị ruột của thầy Lâm. Nếu không kể sáu năm còn cha mẹ, thì Yên sống với gia đình cô Quí lâu nhất, gần gũi thân thiết và coi như gia đình của mình. Khoảng đời năm năm ăn chực nhà nhà trong làng mờ mịt dần trong ký ức, thảng hoặc có nhớ đến thì Yên cảm thấy ngượng ngùng và cố quên đi. Đôi khi Yên tủi thân nghĩ họ hàng đông như vậy mà không ai nuôi nỗi một đưá cháu mồ côi ăn học, đến nỗi phải góp hụi nhờ vả người dưng. Càng lớn Yên càng ít về làng, thực ra mỗi năm vẫn về giỗ cha mẹ, nhưng càng về sau này, Yên càng thấy lạc lõng giữa những người bà con ruột thịt. Họ hầu như sống ở một thế giới khác Yên. Mấy chị em họ ngày xưa cùng Yên chơi bán quán, nhảy cò cò, đến mười sáu mười bảy tuổi bắt đầu hỏi Yên lên tỉnh học có quen anh nào không? Họ ở làng quê, có người đã có mối mai rồi. Từ đó cứ mỗi năm đến chạp là có đám cưới, đến năm ngoái thì đứa em họ cuối cùng của Yên đi lấy chồng. Bây giờ cả họ dường như chỉ còn chờ đám cưới của Yên.

Yên cũng có người yêu từ hồi học ở tỉnh. Nhưng khi Yên lên thành phố vào đại học thì chuyện tình nhạt dần. Yên nhìn nhận là lỗi của Yên, nhưng Yên không có cách nào khác . Vào đại học, ở nội trú, yên phải tự  xoay sở lấy mọi chi phí cho việc ăn học của mình. Yên phải “ba đầu sáu tay” mới có thể lấy được tấm bằng cử nhân, kiếm được một việc làm ở công ty liên doanh. Thì giờ tâm trí đâu mà Yên thư từ hò hẹn với tình nhân? Người yêu cũ của Yên tốt nghiệp trường cao đẳng của tỉnh , nhận nhiệm sở ở  huyện nhà và cưới vợ gần đó. Cũng xong một bề.  

Cuộc sống của Yên bây giờ như thế này: Yên mướn một căn hộ chung cư giá mỗi tháng bốn trăm ngàn đồng, chưa tính tiền điện, nước và điện thoại. Yên mua trả góp một chiếc xe gắn máy để có phương tiện đi làm, hiện còn nợ chín tháng tiền góp.  Yên làm việc trên lầu bảy của một cao ốc văn phòng ở trung tâm thành phố, có mười một đồng sự trong căn phòng rộng gắn máy điều hoà không khí, trưởng phòng là một người nước ngoài khi ra lệnh thì bằng tiếng Anh, khi bực mình thì chửi bằng tiếng Việt “Đ. M. mày!”. Khi bị chửi lần đầu tiên ai cũng xanh tái mặt, không thốt được một lời, sau đó tự an ủi là đứa xỏ lá nào dạy gã nói bậy, chứ gã có biết gã nói gì đâu. Tương kế tựu kế, mấy đứa trẻ nhất phòng quyết dạy cho gã thêm mấy tiếng chửi mới. Gã thấy hiệu quả câu chửi bằng tiếng Việt, lấy làm đắc ý lắm, nên sẵn lòng mở mang từ vựng. Hiện nay, ngày nào cũng có người làm gì đó cho gã chửi lên ít nhất một chục lần: “Đ.M. ông cố nội tao!” .

Buổi trưa Yên cùng mấy đưá bạn còn độc thân kêu cơm hộp ăn qua bữa, nói chuyện thời trang, chuyện tình người mẫu, cát-xê quảng cáo của mấy ca sĩ  đang lên, phim đang chiếu trên truyền hình, shop nào mới mở, đâu đó có gì hay. Mà cái gì hay? Luẩn quẩn lanh quanh hết trình diễn thời trang đến café nhạc sống, hết khiêu vũ trong khúc dương cầm đến dã ngoại trong tiếng sáo ở “quán vườn quê”. Dần dà Yên thấy chán, nhưng không có những tiết mục đó thì Yên thấy trống trải quá giữa bốn bức tường của gian phòng trọ. Có lẽ nên có chồng con để mà có cái lo, để làm cho đời mình bận bịu. Hai mươi lăm tuổi rồi. Yên bắt đầu tìm kiếm người yêu. Nhưng mà Yên thông minh quá. Dù không đòi hỏi quá đáng, nhưng Yên cũng muốn chia xẻ cuộc đời mình với một người xứng đáng, không hơn thì cũng bằng mình, ít nhất thì cũng hoà điệu được tâm hồn. Ngày xưa ở làng mình, Yên thường nghe nói “Đàn bà không đái qua ngọn cỏ”. Nay ở cái thành phố năm sáu triệu dân, sao Yên chỉ gặp những gã đàn ông chí khí không cao bằng ngọn cỏ. Người chung quanh nói Yên kén quá, còn Yên thì tin là ở đâu đó trên cõi đời này chắc cũng có người đàn ông trung thực khảng khái mà Yên chưa có duyên gặp gỡ. Một ngày nào đó …

Và cứ thế, ngày ngày Yên đến sở làm,  làm cái công việc được giao, nhảm nhí vô vị, mà phải  dốc sức làm cho tốt cho hay, thể hiện sự bén nhạy và hiệu quả cao, để được nâng lương, để giữ chỗ làm, để là một người “giỏi” trong đám đồng sự ưa ganh ghét, và không biết lúc nào cái công ty của mình sập tiệm, hay một sự cố nào đó xảy ra khiến mình mất việc. Hăm bảy, hăm tám, rồi hăm chín. Hết tuổi hăm rồi, Yên không sợ gì hơn sợ cầm hồ sơ đi xin việc. Công việc. Công việc. Cái ngày thầy giáo làng chở bé Yên – người duy nhất trong làng được tuyển vào lớp bồi dưỡng năng khiếu của tỉnh – lên thị xã, ân cần gởi gắm cho người chị: “Yên giỏi như vậy, xinh như vậy, và ngoan như vậy, mà bỏ lỡ cơ hội mở mặt với đời thì uổng quá”, không biết thầy có hình dung được cái ngày hôm nay của Yên: Mỗi ngày có hai mươi bốn giờ, mười hai giờ tiêu cho việc kiếm tiền để chi cho sự ăn , ở, mặc, đi lại…, còn mười hai giờ để ăn, ngủ, mặc, đi lại…

Yên tự hẹn lần hẹn lữa mà không rảnh được buổi nào để về làng thăm thầy, có tưởng tượng nỗi không: nghe nói thầy vẫn còn dạy ở trường làng!  Tháng giêng Yên nghe tin anh Hiếu, con lớn của chú Tư,  bị tai nạn rồi mất, lúc đó Yên quả thực là đang rất bận. Sau đó nghĩ mình có về thì cũng không thay đổi được gì, thắp một nén nhang thì thủng thẳng làm cũng được. Vậy rồi, quay qua quay lại đã thấy tháng chạp sắp hết. Yên tính sổ cuối năm, thấy là hôm nay mà mình không quyết định được một điều gì thì coi như cả một năm trôi qua mình không hề tự làm được một quyết định gì. Yên quyết định về quê.

Cô Chi đứng lên đi lấy thêm cái chén và đôi đũa cho Yên. Nhưng Yên nhận ra bữa cơm chiều gần xong rồi, trên mâm chỉ còn mấy cọng rau luộc, mấy miếng đậu kho. Người con dâu của cô Chi dò ý mẹ chồng:

-         Con đi bắc nồi nước nha mẹ?

-         Ừ, kêu chồng con đi bắt con gà giò…

Yên vội nói:

-         Cô cứ cho con ăn như ngày xưa ấy, có gì ăn nấy. Còn ngày mai, ngày kia mà.

-         Vậy thì ăn rau mắm đỡ bữa nay đì. Gắp thêm dưa ra, con.

Yên xách mấy cái túi lớn túi nhỏ của mình vô nhà, định soạn ra. Dượng vừa thắp đèn vừa nói:

-         Cái nào không gấp để mai hẳng tính. Con lo ăn uống tắm rửa rồi nghỉ ngơi.

-         Dạ.

Đèn sáng, căn nhà ấm lên tiếng nói cười rộn ràng. Mấy đứa con của cô Chi ra riêng cất nhà gần đó nghe tin Yên về lại bồng con dắt vợ kéo qua chơi. Một thằng bé chừng  năm tuổi có đôi mắt thô lố , ở đâu chạy sầm tới trố mắt nhìn Yên. Cô Chi nói:

-         Bé Nghĩa vô ăn cơm luôn, con.

Đứa bé lắc đầu:

-         Con ăn bên nhà chú Năm rồi.

Yên bất giác nghẹn nơi cổ. Câu đối đáp ấy dường như trồi lên từ vùng ký ức sâu thẳm. Cô Chi nói nhỏ với Yên:

-         Con thằng Hiếu đó .

Yên nhìn đứa bé cũng đang nhìn mình. Chắc là nó đã nghe người trong họ nói là Yên hồi nhỏ cũng mồ côi như nó, nhưng nhờ học giỏi mà bây giờ có nhà có xe ở thành phố. Trong đôi mắt trong veo của đứa bé, Chi bắt gặp một caí gì rất thân thiết mà rất xa xôi, hình như là khát vọng của một thời thơ ngây.

Anh chị em họ tụ họp lại, người nào cũng đã có vài ba đứa con trạc tuổi bé Nghĩa. Tháng chạp rồi, công việc đồng áng rảnh rỗi, mọi người bàn chuyện mướn xe đi chợ tết ở Sài Gòn, hỏi nhà Yên có chứa hết ngần này người ở qua đêm không? Yên nói nếu nằm trên nền gạch bông kiểu xếp lớp cá mòi thì được. Con nít nhao nhao lên mừng rỡ: nằm gạch bông mát lắm. Người lớn ì xèo bàn cãi những công viên, hội chợ, khu vui chơi giải trí nào đáng đi chơi. 

Yên cũng góp vui với họ. Khi mọi người giãn ra ai về nhà nấy với những dự tính sẽ mua gì chơi gì khi đi chợ tết Sài Gòn, Yên bấc giác quay nhìn vào một khoảng tối của gian nhà, bắt gặp đôi mắt cô Chi nhìn mình. Yên cầm đèn đến ngồi cạnh cô, nhìn rõ mái tóc bạc lưa thưa, đuôi mắt đầy dấu chân chim. Yên cầm bàn tay nổi gân như rễ tre của cô Chi, nhớ lại có một lần hai cô cháu cũng ngồi với nhau như thế. Cô dặn dò Chi đi lên tỉnh học phải cư xử ra sao, ráng chịu nhịn như thế nào, phận mình ăn nhờ ở đậu… Nếu không ở được thì cứ về làng, họ hàng mình ở đây cả, tuy người nào cũng giật gấu vá vai, không thể giúp con làm nên vương tướng, nhưng không ai bỏ con đói đâu. Yên đã nắm chặt bàn tay cô để trấn áp nỗi hoang mang sợ hãi trước một ngày mai vô định giữa những người xa lạ.

Bây giờ Yên vuốt ve bàn tay cô Chi, nhắc lại gần nguyên văn những lời cô đã dạy, và nói hồi đó mình thấy bơ vơ  sợ hãi như thế nào. Rồi Yên hỏi:

-         Trong đời cô có bao giờ thấy sợ hãi không?

 Cô im lặng một lúc rồi nói:

-         Lúc con đi lên tỉnh rồi, cô nghĩ mà sợ quá, không biết một mình con sống ra sao?

Yên cười:

-         Bây giờ cô nghĩ coi còn sợ không? Con vẫn một mình và không biết sống ra sao cuộc đời mình.

Cô Chi cũng cười như thể Yên nói đùa. Cô trải chiếu giăng mùng cho Yên ngủ rồi bưng đèn đi xuống bếp. Yên nằm im đến khi cô Chi tắt đèn mà vẫn chưa ngủ. Trong bóng tối Yên nghe bước chân của cô đến gần giường mình, rồi có cảm giác cô ngồi lên giường. Yên nghe cả hơi thở của cô. Rồi cô nằm xuống bên cạnh Yên, thủ thỉ, dịu dàng:

-         Có ai thương thì ưng đi con. Lấy chồng cho có bạn mà sống.

Yên xoay người ôm chặt cô, dụi đầu vào ngực cô chùi nước mắt, cảm nhận tình yêu thương và sự thông cảm của một người thân, tự hỏi cái hạnh phúc này mình đã đánh mất bao nhiêu lâu mới tìm lại được?