H. thân mến,
Hứa về đến Sài Gòn là viết thư ngay cho H. mà rồi loay hoay đến nay đã tháng tận năm cùng. Biết là H. nhớ Sài Gòn lắm, nhưng mình ở đây riết rồi không biết chọn cái nào để kể H. nghe. Có lẽ bắt đầu từ nơi tụi mình gặp gỡ: ngôi trường mình học chung suốt 7 năm, cùng nhau đi qua tuổi dậy thì đến tuổi thành niên. Hôm 22/11 vừa rồi có buổi họp mặt ba thế hệ Áo Tím – Gia Long – Minh Khai, mình về trường cũ, xăm xăm đi ra thư viện tìm lại con bé trốn học giờ Lý ra đây đọc sách; đọc sách nhưng mắt mơ màng theo cánh bướm vờn quanh chùm hoa sứ trắng, tâm hồn lảng đảng như mây trôi dưới đáy hồ bơi, tập tễnh làm thơ đăng giai phẩm xuân.
H. nhớ những ngàycác anh chị trường khác đem báo xuân qua trường mình bán không? Giờ chơi sân trường rợp xanh bóng lá ngợp trắng tà áo dài lượn bay. “Con đường cái quan” chạy giữa sân trường xuất hiện những nhóm nữ sinh vây quanh những nam sinh mồm mép dẻo quẹo như con gái – và những cô gái thì táo tợn hơn con trai ! Trên ngực áo họ đeo phù hiệu trường Chu Văn An, Petrus Ký, Trưng Vương, Lê Văn Duyệt, Mạc Đỉnh Chi…trong tay họ là những quyển giai phẩm xuân và những tấm thiệp xuân, tất cả đều là “tác phẩm” của họ và bạn bè. Dĩ nhiên trường mình cũng bày ra - thế áp đảo rõ rệt – giai phẩm xuân của mình. Bao giờ mình cũng chấm báo xuân mình nhất, phải không?
Năm nay ban liên lạc cũng ra mắt một tập san, cũng có mấy cô nàng đứng “trấn” ngay lôí ra vào khua môi múa tay, chỉ khác là những người nay dừng lại châm chọc trước khi mua, tính trẻ lắm cũng non bốn mươi tuổi rồi. Lật sơ qua bỗng gặp lại những cái tên quen thuộc quá, cô Điệp, thầy Bạch…ngày xưa từng dạy mình lớp đệ mấy đó. Và những cái tên khác, ghi chú trong ngoặc là Đệ thất 5/1958. Nhìn quanh sân trường lần nữa, thấy bạn bè mình không còn áo trắng như mây, mây trắng đã hóa thành tóc bạc của thầy cô rồi.
Đứa học trò cũ ôm bó hoa đến tặng cô giáo, trò thì đã thành
mẹ, thành bà nội bà ngoại, cô giáo vẫn là cô. Tiếng người điều khiển chương trình
léo nhéo “Cô kí đầu nó một cái đi cô. Hổng thuộc bài sao mà…” Chợt nhớ hồi đệ
thất, đệ lục, trả bài Nhị thập tứ hiếu đọc thuộc làu làu, mà bây giờ chỉ còn nhớ
lõm bõm. Có Lão Lai Tử hình như bảy chục tuổi, trước mặt cha mẹ cứ đùa chơi như
trẻ thơ, lại còn giả té, giả khóc cho cha mẹ dỗ dành. Một người khác, tên gì quên
rồi hè, cũng đã già mà còn bị cha đánh đòn, khóc rống lên thảm thiết; hỏi sao ông
lớn đầu mà khóc to như vậy, ông nói dạo trước cha đánh đòn đau lắm, nay cha đánh
không nghe đau nữa, biết là sức cha đã yếu rồi…
H. nhớ giàn hoa ti-gôn ở sân thể thao không? Bên kia bức tường là con đường Trương Định chạy giữa đôi hàng cây sao, một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày, bỗng có một ngày là hè nhau rụng hết, để lộ mảnh trời bàng bạc mây loa lóa nắng. Đó không phải là ngày “hôm nay tôi đi học” vào cuối thu, mà là một ngày chớm hè tụi mình thấp thỏm đi thi. Kỳ thi khó nhất trong đời học trò của tụi mình là thi vào đệ thất Gia Long, phải không? Con đường này mình “đã đi lại lắm lần, nhưng sao hôm nay bỗng lạ”. Ngôi trường nhìn từ ngoài vẫn y vậy, chỉ có hàng cây sứ trông khẳng khiu chứ không rậm rạp như thuở tụi mình đi lượm hoa. Cảnh quan khu vực quanh trường không thay đổi nhiều như ở trung tâm thành phố.
Nếu bây giờ H. đứng ở bến Bạch Đằng nhìn quanh chắc ngỡ ngàng lắm, dù mắt H. không lạ gì nhà chọc trời bên Âu Mỹ. Ngay như mình chỉ đi xa chưa đầy nửa năm, trở về vẫn bỡ ngỡ bâng khuâng. Hôm kia ăn tân gia nhà chị bạn ở bên kia cầu chữ Y, mình trèo lên sân thượng căn nhà cao nhất xóm của chị nhìn về phía trung tâm thấy lạ lẫm quá. H. có thể hình dung đường chân trời thành phố bắt đầu hao hao giống…một đô thị nào đó ở Mỹ, lô xô nhà chọc trời.
Con hẻm về xóm cũ của H. phía đường Trần Hưng Đạo đã được tráng xi măng, hình như hẻm nào cũng được “nâng cấp” như vậy, nhưng mỗi trận mưa lớn đổ xuống thì lòng hẻm lại hóa thành sông y như xưa. Con nít trong hẻm , còn đông hơn tụi mình ngày trước, vẫn lóp ngóp lội nước tắm mưa, đùa giỡn la hét điếc con ráy.
Đầu hẻm vẫn mấy món hàng rong H. thích :chè thưng táo soạn, cháo huyết, bò bía, gỏi khô bò, bột chiên, có thêm mấy món bún riêu, bánh cuốn. Hôm qua có một “Tây ba lô” ghé ăn bột chiên của chú Hai, khi trả tiền y nhứt định không chịu trả năm ngàn mà chỉ trả ba ngàn như hai đứa học trò ngồi chung bàn. Nó phân bua bằng tiếng Anh với hai đứa học trò là nó không thích bị đối xử phân biệt, và chớ có thấy người da trắng là tìm cách trấn lột, sẽ không ai đến xứ này du lịch nữa đâu. Chú Hai nói khi làm dĩa bột chiên cho thằngTây đó, chú có đập thêm vô một cái trứng, bột cũng cho nhiều hơn, vì chú thấy nó là Tây mà nếm món bình dân của mình, chú muốn “nâng chất lượng “ hàng hóa, tiền nào của nấy, dĩa của nó đáng năm ngàn đồng chứ có phải chú đòi quá đâu. Nhưng gã Tây balô không biết nghe tiếng Việt, đã phủi đít đi mất rồi.. Chú nghe nói tuổi trẻ phương Tây bây giờ thích đi du lịch balô để tìm hiểu những nền văn hóa khác, nhưng chắc là cái văn hóa thâm thúy của chú Hai sẽ không được họ hiểu, thậm chí còn bị một ít đồng bào vì mặc cảm tự ti dân tộc mà mắng cho. Tại sao một cuốc xích lô chở người mình thì năm ba ngàn, nhưng chở Tây thì hét lên mười ngàn? Bởi vì Tây nó bự gấp đôi, có khi gấp ba người mình, chở nó phải đạp mệt lắm chứ bộ?
Kể H. nghe chuyện này chạnh nhớ câu H. nói chưa muốnvề nước vì không thích bị “kỳ thị: là Việt Kiều. Có nhiều chuyện ở xứ mình nhưng ngoài tầm tay của mình, mình đâu biết nói sao. Xưa nay Sài Gòn vẵn là nơi người tứ xứ đổ về, và người từ nơi này cũng đã đi khắp xứ. H. cũng như mình vốn không phải dân Sài Gòn chánh gốc. Ba má mình hồi chiến tranh tản cư ở miền Đông xuống, nhà H. ở miền Tây giạt lên, sau này người trụ lại kẻ tiếp tục ra đi, nhưng H. cũng như mình đều nhận Sài Gòn làm nơi thương nhớ. Biết H. nhớ Sài Gòn là nhớ con hẻm thuở ngây thơ cởi truồng tắm mưa, nhớ con đường đi học lạc trong lá sao rụng bất ngờ, nhớ ngôi trường định hình tính cách và nuôi dưỡng tâm hồn mình thời thiếu nữ, và nhớ, có lẽ, bờ sông của lần hò hẹn ban đầu…
Nỗi nhớ đó mình không đi xa cũng nhớ.
Gởi H. mấy cánh mai vàng nở sớm. H. nhớ không, bông mai vàng
năm cánh là huy hiệu của trường mình, tụi mình từng mang trên ngực áo suốt thời
thiếu nữ vô tư.