1.
Hai giờ khuya. Đi taxi từ sân bay về trường. Đường vắng,
cảnh tối thui, không có được một khái niệm ban đầu nào về xứ
North Carolina này. Chỉ có cảm giác mệt nhừ sau những giờ dài
dằng dặc ngồi trên máy bay và chờ đổi máy bay. Tôi nhắm mắt
lại mơ một cái võng trong vườn ổi, một dĩa bánh ướt chả
lụa, một chén chè thưng... Bỗng có cảm giác chiếc xe giảm
tốc độ đột ngột, tôi chúi đầu tới trước, mở mắt ra. Tài xế
nói, “Nhìn kìa! Cô có thấy nai không?” Mơ hồ trong quầng sáng
phía trước chiếc xe, hai con nai đứng đối diện như thể con này
là bóng của con kia. Tin-tin. Tiếng còi xe làm chúng phóng vào
bóng tối bên đường. Cảnh diễn ra có lẽ trong vòng mười giây.
Tôi tưởng như mình còn mơ ngủ. Tôi hỏi: “Bên đường là rừng
sao?” Tài xế nói, “Chung quanh đây đều là rừng cây cả.” Cái
trường tôi sắp đến học do một thầy tu sáng lập và xây dựng
khoảng hai trăm năm trước trong một khu rừng, gọi là Wake Forest,
Rừng Thức.
2.
Tấm bản đồ khuôn viên trường đại học
không vẽ cây, chỉ vẽ những tòa nhà, đánh số, chua tên. Nhưng
mà chỗ nào tôi đi cũng toàn là cây. Tôi ghi tên chúng vào sổ
tay, tra tự điển, chỉ thấy có một loại cây có tên tương đương
tiếng Việt, “maple: cây thích”. Lá cây thích chớm đổi màu vàng
cam, có những cây khác lá ưng ửng đỏ, và có những cây lá vẫn
xanh đủ kiểu. Ánh phản chiếu của màu lá trên kính cửa sổ
lớp học tạo một không gian đầy cảm hứng cho một buổi thảo
luận thơ ca lãng mạn. Nhưng không ai nói gì cả. Bây giờ là 12
giờ trưa ngày 11 tháng 9 năm 2001. T.V. trong lớp học đang chiếu
đi chiếu lại hình ảnh chiếc máy bay đâm xuyên tòa nhà chọc
trời, và hai tòa nhà Trung tâm Thương mại Quốc tế lần lượt
sụp đổ. Tôi mất mười phút lắng nghe mới tin nổi đây là chương
trình tin tức, đây là truyền hình trực tiếp, đây là chuyện
thực đang diễn ra lúc này, tại nước Mỹ. Các tin tức mới về
một chiếc máy bay khác đâm vào Ngũ giác đài, một chiếc khác
rơi khi đang bay về hướng trại David. Bình luận viên khẳng định
một cuộc khủng bố có tổ chức qui mô chứ không phải một loạt
tai nạn. Hàng chữ thường trực trên màn hình là “Nước Mỹ bị
tấn công”, và từ “chiến tranh” đã được sử dụng. Ngồi trước
màn hình bên cạnh tôi là sáu sinh viên Mỹ ở tuổi hai mươi và
giáo sư DeShazer, tất cả im lặng dán mắt vào màn ảnh. Có lúc
có người gục đầu xuống bàn, úp mặt vào hai bàn tay. Cuối
cùng một câu hỏi vuột ra: “Tại sao?” Giáo sư nói, “Well...” Tôi
không thể nào dịch nổi tiếng “Well” đó. Nó ngắn hơn một tiếng
thở dài, nó dài hơn một cái chép miệng, nó sâu hơn một cái
nuốt vào, và nó được thốt ra vì người nói không tìm được
lời để nói. “Tôi không thể có câu trả lời ngay lúc này. Nhưng
tôi biết một điều: Nước Mỹ sẽ không bao giờ như trước đây nữa.”
3.
“Tại
sao họ ghét chúng ta?” Những sinh viên Mỹ mà tôi biết đang đòi
hỏi một sự giải thíi người một vẻ, thậm chí mỗi người cố
tạo cho mình nét riêng biệt, nhưng những sinh siên này đều có
chung nét vô tư, sự tự tin và lòng tự hào về nước Mỹ. Tôi
không nói họ ngây thơ, nhưng phần lớn họ không ngờ được là đâu
đó trên thế giới này người ta lại căm ghét Mỹ. Sự sụp đổ
của hai tòa nhà chọc trời ở New York ít nhứt cũng đặt họ
trước những câu hỏi, và họ đi tìm câu trả lời. Khủng bố được
tiến hành như thế nào? Bin Ladin là ai? Dầu hỏa đóng vai trò
gì? Các lớp học, các buổi nói chuyện, các hội thảo ở các
qui mô khác nhau, về Hồi giáo , về các vấn đề Trung Đông và
chính sách Mỹ được mở ra, áp-phích dán khắp nới trong khuôn
viên đại học kêu gọi người tham dự. Những giáo sư mà chuyên môn
có liên quan đến các vấn đề đang tranh luận trở nên bận rộn
cực kỳ.
Giáo sư Charles A. Kimball là chủ nhiệm khoa tôn
giáo ở trường Wake Forest, chuyên viên phân tích Trung Đông và
Hồi giáo. Trong vòng một tháng sau sự kiện 11/9, giáo sư
Kimball thực hiện hơn một trăm cuộc nói chuyện, phỏng vấn, trao
đổi, tiếp xúc, và viết bài đăng báo. Tôi đến dự một buổi
giảng của giáo sư tại nhà thờ Knollwood ngày 16/9, bài giảng
tựa là “Where Do We Go From Here?”(Chúng ta đi đâu từ đây?) Ông
bắt đầu từ chỗ xác lập “chúng ta” là ai. Ông nói tổ tiên ông
là người Do Thái ở châu Âu, nếu cha mẹ ông không ngẫu nhiên di
cư sang Mỹ thì bây giờ có thể ông mang quốc tịch Nga hay
Hungary, thay vì là một thành viên của cộng đồng người Mỹ gồm
những người mà nguồn gốc tổ tiên ở khắp nơi trên thế giới. Do
đó, “chúng ta” không kể khác biệt chủng tộc, là những người
có đức tin nơi Thượng đế, sống trong sự bao dung của Người, và
thể hiện tình yêu của Người với con người trên khắp thế gian.
Song song với “chúng ta” là những người Hồi giáo, một tỷ mốt
người, cũng là những người có đức tin nơi Thượng đế, và Hồi
giáo cơ bản là một tôn giáo hòa bình. “Từ đây” là thời điểm
quyết định vận mạng nước Mỹ, khi mà đau thương của vụ thảm
sát khiến cho các cơ quan truyền thông không ngớt lời kêu gọi
trả đũa phục thù, bóng ma của một cuộc chiến tranh thế giới
đang lởn vởn, và chính quyền Mỹ đang chuẩn bị hành động.
Giáo sư Kimball không trực tiếp trả lời “chúng ta” đi đâu từ
đây, nhưng ông kịch liệt bài xích thái độ một số người, đặc
biệt một số lãnh tụ tôn giáo đã lớn tiếng kích thích hận
thù giữa Thiên chúa giáo và Hồi giáo, hay phân biệt chủng
tộc, kỳ thị di dân và ngoại kiều.
Giáo sư Kimball cũng như
nhiều trí thức khác tin tưởng vào thể chế dân chủ tự do của
Mỹ, tận dụng quyền tự do ngôn luận để thể hiện trách nhiệm
của mình đối với vận mạng đất nước. Khi mà các đại gia
truyền thông chỉ nói một giọng hùa theo quyền lực và tiền
bạc, thì người ta tranh thủ các giảng đường, các hội thảo để
nói lên tiếng nói của mình. Vấn đề là ai nói ai nghe.
4.
Học
giả và sinh viên của chương trình Fulbright (thường gọi là
Fulbrighters) cũng có một diễn đàn. Khi sự kiện 11/9 xảy ra,
diễn đàn này tràn ngập thư của các Fulbrighters các nước phân
ưu, chia xẻ nỗi đau với dân Mỹ, và thăm hỏi tình hình của
nhau. Sau đó một Fulbrighter người Đức, Joerg Geier, đề xướng
viết một bức kiến nghị thư gởi tổng thống Mỹ để can ngăn
chiến tranh. Thư được các Fulbrighters khác góp ý, sữa chữa
từng chữ, và trong lúc thư còn đang chuyền nhau để thu thập
chữ ký, thì máy bay Mỹ đã vâng lệnh tổng thống Bush ném bom
Afghanistan. Diễn đàn đang sôi nổi chợt lặng trang mấy ngày sau
bài diễn văn tuyên chiến của tổng thống Bush. Rồi bắt đầu lại
bằng câu hỏi của một người nào đó nêu lên: “Vậy còn chúng ta
thì sao?” Một người đề nghị nên giữ liên hệ chặt chẽ với sứ
quán nước mình, một người khác đưa ra những số điện thoại
khẩn cấp, người khác nữa cung cấp một danh sách kinh nghiệm
cần thiết để sống sót qua chiến tranh. Còn Joerg Geier thì cập
nhật hóa bức kiến nghị thư và góp nhặt tiền nong để mua tem
và bao bì gởi thư đến các cơ quan truyền thông nhờ đăng tải,
song song với gởi nó tới tòa nhà trắng.
5.
Những
người chống chiến tranh kéo nhau đi thủ đô Washington biểu tình.
Ở trường đại học những người hiếu hòa (pacifist) cố gắng gầy
dựng lại phong trào chống chiến tranh. Họ rủ tôi đi dự một
hội thảo hòa bình ở đại học North Carolina/ Greensboro. Ngày
thứ bảy đẹp trời, khuôn viên đại học thưa vắng, khoảng một
trăm người tụ tập, hùng hồn tranh luận và thuyết phục nhau
rằng nước đứng đầu khủng bố không ai khác hơn là Mỹ; trong khi
nhân danh tự do và nhân quyền để tiến hành khủng bố ở các
nước khác thì chính quyền Bush vi phạm tự do và nhân quyền
ngay trên đất nước Mỹ; và cách giải quyết khủng bố tốt nhứt
không phải bằng khủng bố, mà bằng cách triệt tiêu nguyên nhân
khủng bố, thí dụ như Mỹ xem xét lại chính sách Mỹ đối với
Trung Đông.
Cảm giác của tôi là những sinh viên và giáo sư này, đều trẻ, đang hăng hái đấm vô khoảng không.
Cũng
giống như bức kiến nghị thư Joerg Geier đã thay mặt các
Fulbighters gởi đi khắp nơi. Không biết những bức thư ấy có bị
tình nghi là thư tẩm vi trùng bệnh than không; nhưng một tháng
sau Joerg Geier hỏi có ai biết hay nghe nói thư được đăng tải hay
có hồi đáp chăng. Không. Joerg Geier bèn đề nghị viết thêm một
kiến nghị thư nữa. Một Fulbrighter khác, Joern Kersten, bèn có
ý kiến như sau: “Thực ra thì Mỹ đã thực hiện gần đúng hết
các kiến nghị của chúng ta: họ đã không vội vã trả thù mà
chuẩn bị tấn công chu đáo; họ không một mình chống lại thế
giới mà tìm được một đống đồng minh; họ tiến hành những
cuộc thương lượng ngầm để tạo ra chính quyền chuyển tiếp cho
Afghanistan; vân vân. Đành rằng không được hoàn hảo lắm: thường
dân hoặc chết vì bom hoặc chết vì đói, nếu không kịp chạy
trốn; chiến tranh vẫn tiếp diễn trong tháng chay Ramadan...
Thành ra tôi không chắc là cần gởi thêm một bức kiến nghi thư
nữa. Tuy nhiên nếu các bạn muốn, thì tôi đề nghị tụi mình nên
năn nỉ các chính quyền hãy thực hiện điều họ nói, như viện
trợ nhân đạo khẩn cấp, giúp Afghanistan thiết lập một hệ
thống chính trị ổn định, giúp xây dựng lại đất nước này,
trừ bỏ nguyên nhân khủng bố , giảng hòa với Trung Đông; và nếu
chính quyền Mỹ còn bận tâm đến dân quyền thì hãy bảo vệ
điều đó ngay tại nước Mỹ, đồng thời tỏ ra tôn trọng các nước
khác thêm một chút trong chính sách ngoại giao.”
Không thấy
đề tài này được tiếp tục bàn cải. Về sau, trên diễn đàn chỉ
còn các rao vặt tìm chỗ ở hay chuyển nhượng đồ đạc.... Trời
đã sang đông.
Buổi sáng tháng chạp không có bông cúc hoang
nở vàng trên bãi cỏ quanh nhà như hồi chớm thu. Cây cối trơ
cành, đàn lá khô lìa cành bị những cái máy hút lá và
nghiến lá ngốn rào rào. Ngoảnh đi ngoảnh lại mà một học kỳ
sắp xong. Mùa thi. Thư viện thông báo tăng giờ mở cửa, mười hai
giờ đêm tòa nhà ấy vẫn sáng trưng và các phòng vẫn đầy sinh
viên cặm cụi với sách vỡ và máy tính. Buổi chiều, trời đầy
mây, một bầy chim thiên di bay theo đội hình chữ V về phương nam.
Gió buốt xương, tôi băng qua đồng cỏ đã ngả màu xám bạc, lủi
thủi đi về nhà trọ, nghe tiếng kêu “quạc quạc” vẳng xuống từ
thinh không, mà đem lòng ganh tỵ với những con chim trời.