Năm 2000. Năm con rồng. Suy nghĩ về một con số mở ra một
thiên niên kỷ và một biểu tượng của hy vọng phồn thịnh, tôi không thể ngồi yên nơi bàn viết trong một góc nhà mà suy
nhgĩ. Khả năng suy tư trên đôi chân chuyển động chắc là được di truyền từ ông
bà cha mẹ tôi, nếu không thì đó là thói quen tôi đã tập nhiễm từ những người
thân thuở ấu thơ. Ông tôi làm ruộng, sáng tinh mơ dắt trâu đi một giờ đồng hồ mới
tới cánh đồng, rồi cả ngày cùng con trâu
đi loanh quanh miếng ruộng ngập nước. Bà tôi hái rau trái trong vườn gánh ra chợ
bán, thường đi bộ từ lúc trời đầy sao đến khi xế nắng mới về, chân đất nứt nẻ,
hai vai chai sần.Cha tôi cũng đi bộ suốt đời bán hàng rong trên khắp những con
đường lớn nhỏ của thành phố này. Chắc chắn
loài người đã đi bộ từ hồi tổ tiên của họ đứng được trên hai chi sau, nhưng đến
cuối thế kỷ 20, các nhà khoa học bên Mỹ
mới phát hiện là đi bộ kích thích não tiếp tục phát triển và giúp cho người ta
tư duy tích cực. Có lý.
Tôi đi dọc đường Hủng
Vương (TP.HCM), qua khu thương mại Thuận Kiều mới xây lộng lẫy (tòa nhà cao nhất
thành phố hiện nay), băng qua khu buôn bán sỉ Soái Kình Lâm, tới chợ Bình Tây tấp
nập đủ loại hàng hóa, rồi trở lại đường
Hải Thượng Lãn Ông mà mỗi nhà mặt tiền là một cửa hàng. Rồi với đôi chân rã rời, tôi luồn tắt qua những hẻm
nhỏ cắt vụn những khu phố nằm giữa hai đường Trần Hưng Đạo và Nguyễn Trãi để về
nhà.Vừa đi tôi vừa suy nghĩ: đất nước này, mà thôi , khoanh lại trong “thành phố
này”, sẽ tiến vào thiên niên kỷ mới bằng cái gì? Tôi không thích hình ảnh hư ảo
“trên lưng rồng” hay mơ hồ như “đôi cánh” gì đó. Trên đôi cánh máy bay Boeing
mua chịu ư? Hay trên bốn bánh xe hơi nhập cảng?
Hay trên hai bánh xe gắn
máy nước ngoài? Không. Hôm nay đi trên những nẻo đường sôi động cuộc sống náo nhiệt,
tôi tin chắc chắn là thành phố này đang tiến tới tương lai trên những đôi chân
người.
Đôi chân của những người
cha và anh đang đạp xoay vòng bánh xe xích lô, đôi chân của những người mẹ và
chị đi sau những chiếc xe đẩy tay hay dưới những gánh hàng rong. Thành phố này
xưa nay luôn có vẻ bừa bộn tạp nhạp nhộn nhạo là bởi vì luôn có một lực lượng
đông đúc những người “lao động tự do”, buôn bán lẻ di động, không ai biết chính
xác con số bao nhiêu, và có lẽ thuế má họ đóng góp cũng không đánh kể. Không thể
nói họ là động lực hay tiềm năng phát triển kinh tế, mặc dù ở một khía cạnh họ
cũng tạo nên nét đặc thù của thành phố này để cho ngành du lịch khai thác, nếu
biết khai thác. Không. Ít vốn liếng không chuyên môn mới đi bán rong, đạp xích
lô. Trong khi cái thế giới đang “toàn cầu hóa” này đòi hỏi một đất nước muốn
phát triển theo quỹ đạo chung phải có lao động kỹ thuật cao, vốn liếng đầu tư
nhiều. Vậy mà tôi trông cậy vào đôi chân của những người lao động thô sơ để đi tới
tương lai, tôi đùa à?
Làm sao tôi dám đùa khi gặp
những người đạp xích lô xúm xít ăn trưa ở cái quán phở lề đường: một tô gọi là
phở giá 3.000đồng lõng bõng nước, người đàn ông lấy từ dưới ghế xích lô ra một
lon cơm nguội, trút vào tô phở, để ăn no nê một bữa trưa; mua 1.000đồng trà rót
đầy bình nhựa, cất dưới ghế xích lô, rồi còng lưng tiếp tục đạp xe dưới nắng lửa,
dưới mưa giông. Ông đón khách từ lúc 5 giờ sáng, 12 giờ khuya còn lảng vảng
quanh các nhà hàng, vũ trường. Vừa chở khác, ông vừa tính toán tiền sách vở, đồng phục
cho hai đứa con ở trung học, tiền trường cho đứa lớn vào đại học. Ông nghĩ đến
ngày tựu trường gần kề mà đạp nhanh lên để tranh được nhiều khác hơn, sẵn sàng
chở hai, ba người với đồ đạc cồng kềnh để được thù lao khá hơn.
Tôi không hề đùa với người mẹ quảy gánh hàng rong gồm mấy phong bánh nổ, mấy
ký đường phèn, mấy xấp bánh tráng khoai, từ miền quê nào
đó đến đây, ngày đi lang thang khắp nơi khản giọng rao hàng, đêm chen chúc
trong một chái nhà trọ chung với những người đồng hương đồng cảnh. Gặp khi mưa
dột, người mẹ ngồi thu lu cầm cái nón lá che gánh hàng, tự động viên mình rằng ở
quê nhà con cái cũng đang co ro trong gian nhà trống, mùa đông mặc áo rách đến trường, ăn khoai trừ
bữa, chờ mẹ đem về cuốn tập, cây viết.
Tôi gặp họ hôm nay, dưới bóng những tòa nhà cao ngất xây bằng tiền nước
ngoài đầu tư, len lỏi giữa rừng xe cộ ngoại nhập đủ loại ngược xuôi. Họ không ngước nhìn
những tiện nghi xa xỉ để mơ mộng viển vông , nhưng khi rong ruổi qua các nẻo đường
thành phố, họ biết có những cái này hay hoặc cái kia dở mà làng quê mình không
có. Họ không cúi gằm với mặc cảm hèn mọn, vì nhờ
gặp gỡ người này người kia mỗi ngày, họ có lý do tin rằng nếu con cái mình được
ăn học bằng người, thì chúng cũng vươn lên trong ánh mặt trời. Thỉnh thoảng tôi
gặp con cái họ trên mặt báo: đứa đậu thủ
khoa vào đại học, đứa đạt danh hiệu học sinh xuất sắc, đứa được học bổng du hoc. Người ta viết về những điển hình tuổi trẻ ấy, có nhắc
qua loa về người cha đạp xích lô hay người mẹ bán hàng rong, không tên tuổi
hình ảnh.
Mỗi ngày, do công việc tôi nối mạng internet, nhìn thấy mỗi ngày thế giới này
biến đổi nhanh như thế nào. Mỗi ngày có hàng trăm nhà triệu phú mới xuất hiện trong
ngành công nghiệp thông tin và giải trí, và cũng mỗi ngày có hàng ngàn trẻ em
chết đói ở nơi gọi là “thế giới thứ ba”. Mỗi ngày lại có thêm phát minh mới, số
người có máy tính tăng lên, số máy tính nối mạng nhiều hơn, trái đất đang nhỏ lại
với hai chủng người: người “ưu việt” điều khiển thông tin, và người thua thiệt
mù thông tin. Những kẻ “ưu việt” điều tiết
gien để nòi giống mình siêu việt hoàn hảo hơn, “sao” bản thân mình để sống đời, và sẽ
diệt vong những kẻ thiển cận, cúi đầu, bưng mắt bịt tai. Mỗi ngày nhìn ra thế giới
lại thấy một xu hướng thay đổi và tách biệt rõ dần. Trong cái thế giới đó, tôi
thấy đất nước mình giống như người mẹ vai gánh nặng trên dặm đường xa. Hình ảnh
vất vả, cũ và buồn quá, nhưng tôi không biết có phép mầu nào khác hơn sự dũng cảm bươn chải cần kiệm của
người mẹ ấy đầu tư tất cả cho những người con.
Bây giờ “tương lai” không là năm 2000
nữa, người ta tính tới năm 2040: lúc đó du khách
lên mặt trăng thông thường như thế nào, bộ đồ người ta mặc được vi tính hóa ra
sao, và có thể con người sẽ tự định đoạt số phận mình bằng kỹ thuật điều tiết
gien. Lúc ấy Việt Nam ra sao? Tôi không hình dung được, 40 năm nữa có lẽ
không còn tôi nữa. Nhưng có một hình ảnh của 40
năm trước, vẫn khắc sâu trong tim óc
tôi: một người đàn ông di dân mù chữ với đôi chân trần lặn lội khắp nẻo đường
thành phố bán hàng rong, cần cù tiện tặn nuôi 3 người con ăn học. Bằng đôi chân
của ông, các con ông đã đi tới những thế giới ông không hề tưởng tượng được. Đã
nhiều năm tôi muốn viết về cuộc đời ông, nhưng ông không có thành tích gì sáng chói, ngoài việc đóng góp cho xã hội này một kỹ sư, một
nhà giáo , một nhà văn.