Lúc đó xe đang chờ qua bắc, trời nắng và không khí trên bến nồng hăng mùi xăng dầu. Ngồi trong xe ngộp quá, tôi bước xuống đường. Bầy trẻ bu lại mời mua quà, Chúng đều xấp xỉ cùng lứa với thằng em út của tôi. Cỡ từ mười đến mười lăm tuổi. Chúng bán gì. Bánh lá dừa, bánh tráng mè, kẹo đậu phụng , báo và vô số thứ khác. Nhưng có lẽ vùng lân cận được mùa ổi nên khắp nơi vang tiếng chào mời:
-Ổi đây !
-Ổi xá lị ngon nổi tiếng miền Tây . . .
-Ổi bom đây, ngọt dòn thơm ngon bổ dưỡng . . .
-Ổi đi chị
Lời mời cuối là của một thằng bé trắng bóc. Nó bưng một cái rổ đựng chừng chục ổi đến bên cạnh tôi, rụt rè nói như năn nỉ. Trông nó không giống tất cả những đứa trẻ thường bán quà vặt trên bến bắc này. Nó giống một công tử vườn, năm khi mười họa mới có việc ra đường, đội mũ đeo găng, mang vớ hẳn hoi. Nếu không thì làm sao giữa cái nắng chói chang này mà da nó trắng mịn màng như vậy? Tôi rất tò mò nên dọ hỏi:
-Bao nhiêu một chục, em ?
-Chị cho xin ba ngàn
-Mắc quá. Thằng bé kia bán có hai ngàn.
-Ổi của em lớn hơn mà.
-Một chục mười bốn hay mươì hai?
-Mười bốn.
-Ổi nhà em hái bán à?
-Em đếm lại của người ta.
-Nhà em không trồng ổi hả?
-Không. Không có vườn.
-Ba má em làm gì ?
Thằng bé ngước mắt nhìn tôi. Một nỗi ân hận dâng trong lòng, nhưng tôi không kịp sửa chữa. Đôi mắt trẻ con đó như trách tôi sao nỡ dồn nó tới chân tường. Rồi khi mí mắt nó cụp xuống, nước mắt cũng đồng thời ứa ra. Tôi áy náy bảo:
-Em đếm cho chị một chục.
Nó đặt rổ ổi xuống đất, lấy một bao ny lông, vò miệng bao để tách hai lớp ni lông dính chặt quá không mở ra được. Tôi nhìn hia bàn tay nhỏ bé vụng về, có một vết mực tím dính ở ngón tay giữa của bàn tay phải. tôi lại hỏi:
-Em học lớp mấy?
-Dạ lớp sáu.
Tôi có rất nhiều câu hỏi để hỏi thêm, nhưng sợ thằng bé lại khóc nữa, nên chỉ đứng nhìn nó bỏ ổi vô bao. Bà bạn đồng hành của tôi từ trên xe bước xuống lại gần tôi hỏi:
-Chị mua ổi hả? Bao nhiêu vậy?
-Ba ngàn
-Mắc dữ vậy?
Thằng bé ngước lên nói:
-Ổi này lớn mà .
-Lớn thì lạt lắm. mà cũng không thể tới ba ngàn.
Nhìn vẻ mặt chê bai của bà bạn tôi, thằng bé có vẻ lo lắng:
-Thì em nói ba ngàn chị trả hai ngàn rưởi em cũng bán được.
Tôi phì cười. Bà bạn tôi kinh ngạc:
-Chị mua không trả giá à?
-Không, ngó thằng bé thật thà quá, chắc không nói thách đâu.
Mặt thằng bé đỏ lên, nhận tiền mà đầu cúi xuống. Đã có bắc tới bến, xe rồ máy sắp chạy. tôi vội vã leo lên xe. Bỗng thằng bé chạy theo níu tôi đưa lại năm trăm. Nó nói lúng búng:
-Dì em dặn nói giá ba ngàn, nhưng giá hai ngàn rưởi thì bán được.
Mọi người trên xe nhìn thằng bé cười:
-Con nhà ai mà khờ quá. Bán buôn nỗi gì?
Xe chạy. tôi nói:
-Chị cho em đó.
Tôi không ngoái đầu lại để xem phản ứng thằng bé ra sao. Nó mừng rỡ bỏ tiền vô túi ,vui vẻ nói với theo “cám ơn”, hay đứng tần ngần với món tiền nhỏ trong tay.
Chiếc bắc từ từ ra giữa dòng sông mênh mông. Tôi nhìn sông nước lăn tăn, phù sa màu gạch. Ai biết ba má thằng bé ra sao mà nhắc tới nó rơi nước mắt? Chắc nó đi bán lần đầu nên da còn trắng trẻo, tánh tình thật thà. Bà bạn tôi nói:
-Thời buổi khó khăn, trẻ em khổ lắm. Nhưng rồi chúng cũng mau khôn thôi.
Tôi biết có một ngàn lý do đẩy trẻ em
bước ra đời tự bươn chải kiếm miếng ăn. Tôi cũng biết nắng miền nhiệt đới chẳng mấy chốc sẽ nhuộm
da em thành nâu đen. Và cũng chẳng lâu la gì, cuộc tranh sống sẽ dạy em “khôn
ra”. Tôi sẽ chẳng có mấy dịp đi qua bắc này nữa, chắc không còn gặp lại em.
Nhưng nhan nhản quanh tôi vẫn luôn có những em bé như vậy. Các em bị bắt buộc đánh mất sự hồn
nhiên và lòng trung thực quá sớm để có thể sống ở đời. Có bao giờ lòng trung thực
và sự hồn nhiên được trả lại cho tuổi thơ một khi lỡ mất rồi? Tôi nhìn bóng rặng
cây bên bờ sông xanh xanh, tự lau nước mắt cho mình.
9/91