Tắt quạt, tắt đèn, xem lại bếp điện một lần nữa. Rồi chợt nghĩ ra, kéo cầu dao xuống là an toàn nhất. Tôi nhìn Phượng đi ngang dọc căn phòng.
- Không ai coi nhà sao?
- Không. Bé Tiên về nội chơi rồi.
Phượng xốc cái ba lô du lịch đeo lên vai, cầm ổ khóa đi ra cửa. Tôi không thể đừng hỏi thêm một câu nhảm nhí.
-Khóa cửa bỏ nhà đây à?
-Không lẽ cõng theo?
Phương ngoắc xích lô đi, mỗi ngươì một chiếc. Lúc đầu hai chiếc xích lô chạy song song hoặc gần nhau nhưng không có chuyện gì để nói. Qua Ngã Bảy, hai chiếc xích lô lạc nhau. Tôi nhóng cổ tới trước rồi ngoaí nhìn ra sau mấy lần mà vẫn không thấy Phượng. Có thể người xích lô đã quẹo sang đường khác. Mà, kệ ! Đường nào thì cũng tới xa cảng. Tôi ngồi khoanh tay nhìn mấy cậu học trò làm xiếc xe đạp trên đường phố.
Chiếc xích lô tôi ngồi chạy chậm rì rì mà tới nơi vẫn chưa thấy Phượng. Lúc đi quên hẹn trong trường hợp này thì đợi nhau ở đâu. Tôi chọn chỗ trống trải dễ nhìn thấy, đứng chường mặt ra một hồi, đâm sốt ruột. Không chừng Phượng cũng đang đứng ở đâu đó, vươn đầu vươn cổ ra chờ. Tôi tha cái túi đi thơ thẩn quanh bến xe. Mỏi chân chợt nghĩ: Hay là Phượng đã lừa mình?
Đưa ông Táo về trời rồi, ai cũng bận tíu tít sắm sửa cho gia đình ăn Tết. Trừ đứa độc thân là tôi, và đứa ly dị là Phượng. Sau khi mọi người đã hối hả rời khỏi căn phòng trống mênh mông của cơ quan, Phượng nói:
-Mai tao đi Tháp Mười.
-Chi vậy?
-Tao bơi một chiếc xuồng con vô rừng tràm, tới bãi cỏ năn, nơi người ta nói còn những con hạc.
-Mà chi vậy?
-Chờ trăng lên coi hạc múa.
Tôi định cười giễu Phượng “Mày chờ trăng đêm ba mươi à?” nhưng đột nhiên một luồng giao cảm thần bí làm tôi rùng mình: Trong tích tắc mắt tôi tình cờ chạm phải cái nhìn của Phượng. Cái một phần mươì giây ấy không thể nào diễn tả được. Tôi hấp tấp nói:
-Cho tao đi với.
-Mày có chân thì đi.
Nếu Phượng không muốn tôi đi cùng, nó sẽ nói: “Không, tao không muốn”. Nếu nó cố tình đánh lạc hướng để bỏ rơi tôi khi chưa đi tới đâu hết, thì đó không phải là tính cách Phượng. Nó cần gì làm như vậy?
Nhưng nếu Phượng đã làm như vậy, thì chuyện không bình thường nữa. Nỗi lo sợ mơ hồ vẩn lên trong lòng tôi.
Lóc cóc một mình về lại căn nhà mình, tôi quăng cái xách vô góc phòng, quăng mình xuống ghế bố. Rôì ngày hôm đó qua đi, tôi không nghĩ đến Phượng nữa. Kệ nó. Đứa nào cũng già chát rôì chứ còn con nít sao.
Chiều hăm tám Tết, Biên tới hỏi:
-Phượng có nói đi đâu không?
-Nó đi U Minh, Đồng Tháp gì đó.
-Tết nhứt mà đi đâu miệt dưới?
-Đi coi hạc múa.
Biên ngồi xuống ghế như để lấy sức cho một câu chuyện dài. Nhưng tôi tránh những câu hỏi có thể khơi mào như “Có chuyện gì vậy? Dạo này anh làm ăn ra sao?” Điên sao mà hứng thêm những lo âu rầu rĩ lúc tháng tận năm cùng? Tôi nói:
-Lát nữa ông Phú qua chơi. Ông có rảnh thì ngôì lại. Cuôí năm bạn bè cũ gặp nhau cũng vui.
Biên hút thuốc. Nhà không có sẵn cái gạt tàn vì tôi nhất quyết không mua một cái. Biên hút nửa điêú thuốc rồi nói:
-Phượng dạo này ra sao?
-Vợ ông mà ông hỏi tui.
-Phượng thỉnh thoảng bỏ đi đâu vài ngày. Bé Tiên chơi với nội riết cũng quen. Chuyện bất thường là lần này đem Tiên gởi về nội, Phượng để trong giỏ áo quần của con hộp nữ trang của mình. Có đủ đôi bông với dây chuyển mà mẹ tôi đã đi hỏi Phượng.
Chuông cửa kêu leng keng. Biên nói vội như tranh thủ lúc còn vắng mặt người thứ ba:
-Hồi tụi này chia tay, Phượng trả lại tôi nhẫn vàng nhưng giữ lại đôi bông. Bữa nay bà cụ soạn áo quần bé Tiên, thấy đôi bông và hộp nữ trang , bà cụ khóc: “Vậy là con Phượng đi luôn không về nữa đâu”.
Chuông lại kêu. Tôi lật đật đi ra mở cửa. Phú giới thiệu người cùng đến:
-Đây là Tống.
-Chào anh. Tuyết có viết thư giới thiệu anh.
-Tôi cũng thường nghe chị Tuyết nói về. . . chị.
Cái tiếng “chị” ngượng nghịu làm tôi phát thương anh chàng. Tuyết viết Tống bằng tuổi tôi, nhưng sao những người mới ở nước ngoài về đều có một gương mặt “sữa” quá. Chắc anh ta cũng hơi bất ngờ rằng tôi già như vầy. Phú bước vô nhà hét lên:
-Ủa, Biên ! Khỏe hôn mậy? Còn nhớ Tuyết không? Bả gửi lời thăm mày với Phượng.
-Cám ơn . Tuyết ra sao rồi?
Phú cười ha hả vỗ vai Tống đồm độp:
-Hỏi ông này nè. Ông mới ở Thụy Sĩ về hôm qua.
Tôi giới thiệu:
-Anh Tống. Anh Biên.
Phú bổ sung:
-Anh Biên chồng Phượng mà hồi sáng anh hỏi đó.
Tống bắt tay mừng rỡ:
-May quá, chị Tuyết nhờ tôi mang chút quà về cho anh chị. Anh Phú hứa mai đưa tôi đến thăm . . .
-Xin lỗi, nhưng anh là gì của Tuyết?
-Chị Tuyết là chị dâu tôi.
-À . .
-Chị đã có hai con. Đây là ảnh gia đình.
Tống lấy trong túi ra một an-bum. Mọi người chụm đầu nhìn vào. Tuyết vẫn trẻ trung xinh đẹp, ngồi nép bên cạnh chồng, hai đứa bé mũm mỉm ngôì gọn trong lòng cha mẹ. gương mặt nào cũng sáng niềm hạnh phúc và sự hài lòng. Biên hỏi:
-Ông xã Tuyết làm gì?
-Bác sĩ.
Phú choàng tay qua vai Tống cười:
-Tống cũng là bác sĩ. Độc thân.
Tôi bày bàn ăn. Thức ăn đã được chuẩn bị trước nhưng cũng mất thì giờ bày biện. Tôi làm nhẩn nha. Thỉnh thoảng từ torng bếp tôi quan sát Tống nhưng chỉ thấy phía sau đầu và vai anh ta nhô lên trên thành ghế dựa. Tôi nhìn đôi vai ngang rộng củ angười đàn ông. Đôi lúc tôi cũng mong ước ngã cái đầu rôí rắm của mình vaò một chỗ tựa vững chãi như thế.
Phú hỏi:
-Ờ mà Phượng đâu?
Biên nhìn tôi rôì đáp:
-Nghe nói đi U Minh xem chim cò gì đó.
-Vợ mày mà mày nghe ai nói?
-Tụi tao ly dị năm tháng rồi.
-Ủa !
Tôi bưng bình hoa từ bàn ăn sang bàn uống trà. Hoa thủy cúc màu tím lam buồn buồn, nhưng hoa trổ từng chùm lỉa chỉa ngó cũng vui vui.
Phú lại hỏi:
-Rôì bây giờ Phượng ra sao?
-Lẽ ra mày phải hỏi: Phượng bỏ đi rồi tao ra sao?
Tôi mời mọi người vào bàn ăn. Tống nói về núi, hồ, rừng thông, tuyết và siêu xa lộ cao tốc.
Mọi người đang ăn thì Phượng đến. Nó tự đẩy cửa vô. Phú buông đũa kêu:
-Phượng !
Biên cầm ly run run uống từng ngụm liên tiếp; cái nhìn bám vô cục đá chìm nổi trong ly bia. Tống ngồi lặng đi giây lát. Phượng mặc áo dài, trang điểm như đi dạ hội, lộng lẫy và uyển chuyển bước đến, tỏa ánh sáng rạng ngời trên bàn ăn nhạt nhẽo của tôi. Loài chim thần thoại đẹp thanh thoát cao siêu và quyến rũ một cách trần tục. Tôi giới thiệu, Phượng giơ tay ra. Tống đứng dậy đụng vào bàn ăn làm cho mọi thứ trên đó rung rinh. Tống nói:
-Chị Tuyết gởi lời thăm ... anh chị. Chị Tuyết đã lập gia đình với anh tôi và có hai con.
Tống lại móc tuí lấy an-bum ra. Phượng xem ảnh, mái đầu nghiêng nghiêng một cách duyên dáng và nụ cười đượm trên môi mọng như trái mồng quân.
Biên rót tràn ly bia:
-Phượng uống đi. Cứ sợ không bao giờ còn gặp lại.
Phượng cười, tiếng trong như một chuỗi nốt nhạc rơi xuống phím đàn, uống vơi nửa ly bia.
Tôi nói:
-Phượng, mày xí gạt tao. Hỗm rày mày ở đâu?
Phượng lại cười, âm thanh huyễn hoặc như vọng âm tiếng suối chảy qua khe đá lưng núi.
-Ở một nơi mà tao đã hóa thân lại từ đống tro tàn.
Chỉ nửa ly bia cũng đủ cho đôi má Phượng ửng đỏ, đôi mắt long lanh say. Phú ngắm Phượng:
-Bà càng ngày càng hấp dẫn. Biên, mày điên hay bất lực?
Biên dừng ly bia đang đưa lên kề môi, buông xuống bàn, rủ đầu giữa hai vai, khóc.
Phú sững sờ:
-Cái gì vậy, Biên? Biên!
Tôi nhìn Tống . Anh từ nơi có tuyết, có núi, có hồ, có rừng thông và siêu xa lộ cao tốc về đây mang trong túi áo tấm ảnh một cặp vợ chồng trẻ tươi cười với hai đứa con xinh xắn, chắc không chuẩn bị tinh thần cho một hội ngộ mà kẻ khóc người cười.
-Biên !Biên !
-Chắc ảnh say rồi.
Phú xốc áo định vực Biên dậy. Nhưng tự Biên đã đứng lên. Anh dùng bàn tay dụi xoa đôi mắt, rồi không nhìn ai, nói:
-Xin lỗi
Anh lững thững đi ra. Phượng cầm nửa điếu thuốc Biên để tắt lụi bên bàn uống trà, ngồi xuống cái ghế anh đã ngồi, châm lửa hút. Phú vò đầu, bứt tai, áy náy. Tôi hỏi Tống về rừng thông, trượt băng trên núi, siêu xa lộ cao tốc, nhà nghỉ ven hồ . . . Bỗng nhiên Phượng chen vô:
-Chốn ấy không có hạc.
Tống ngạc nhiên:
-Hạc?
-Anh thử đi cùng trời cuôí đất mà coi. Thế giới này chỉ còn Việt Nam có loài hạc ấy. Không thể tìm đâu một con hạc như con hạc Việt Nam.
Tôi giaỉ thích cho Tống:
-Nông dân kêu là con sếu. Trong văn chương nó là con hạc.
Phượng khăng khăng:
-Đây là chuyện khoa học. Chuyên gia cầm điểu nói rằng hạc là loài chim sống trăm năm nay còn rất hiếm trên địa cầu, vì hạc chỉ sống được khi sinh thái cân bằng. Hồi chiến tranh hạc phải bay đi, không biết về đâu, nay đất nước thanh bình, hạc bay về, không biết từ đâu về.
Phú nói:
-May mà xứ mình có hạc.
Phượng cươì khanh khách:
-Phải. Hợp rồi tan , hy vọng và vỡ mộng, yêu rồi xa lạ, hạnh phúc và khổ đau. . . đâu cũng có. Xứ mình may mà còn có hạc nữa.
Tống nói từng tiếng chậm rãi:
-Và có cả Phượng.
Tôi dọn dẹp bàn ăn.
Khi tôi mang cà phê từ dưới bếp lên, Phú đang nói:
- . . .đã cùng chìm nổi qua những khổ đau không bờ bến, đã yêu một tình yêu quá lớn lao . . .
Tống gật đầu thông cảm:
-Tôi hiểu. Những bị kịch hôn nhân . . .
Phượng hạ mí mắt nhìn Tống, nụ cười khoan dung trên môi nói rằng “Anh chẳng hiểu gì cả . . .”
Tống uống cà phê đen không đường. Tôi cho đường vào tách của tôi , chăm chú khuấy. Phú vẫn tiếp tục nói:
- . .. để đôi lúc giữa dòng đời bươn chải, chợt nhớ một người, chợt bình tâm nghĩ rằng người ấy vẫn đâu đó trong thành phố này, vẫn làm chuyện gì đó, vẫn yêu, vẫn ghét, vẫn tươi cười . . . vẫn sống giữa cuộc đời này. . . .
Cái tách sứ nhỏ nhắn xoay trong bàn tay Phượng thật đẹp. Nó hơi nheo mắt nhìn Phú, mủm mỉm cười. Nó biết cười khi không ai còn gì để nói nữa.
Nửa đêm, Phú và Tống đưa Phượng về. Tôi tiễn bạn xuống cầu thang chung cư. Hẹn nhau mai đi chợ hoa. Tống dừng lại ở cổng nói với tôi:
-Chị Lan à, tôi hy vọng chị sẽ không hiểu lầm Lần này tôi về nước trước là thăm quê hương xứ sở, sau. . . chị Tuyết nhờ tôi . . . mời chị qua bển chơi.
Tôi đã đọc thư Tuyết và hiểu, không lầm.
-Cám ơn anh. Nhờ anh nói với Tuyết là tôi cám ơn.
Tôi không nhìn vào mắt Tống. Bên đường, cạnh Phú, Phượng đứng đợi dưới ánh đèn khuya, lộng lẫy và huyễn hoặc như trong thần thoại.
Tôi bắt tay Tống nói nốt:
-Ở đây chơi cũng vui lắm. Buồn buồn, có thể bơi chiếc xuồng con vô cánh đồng năn, chờ trăng lên coi hạc múa