Nơi tôi ở gọi là thành phố Bellingham, thuộc tỉnh Whatcom, tiểu bang Washington. Nếu muốn tìm thấy cái “thành phố” này trên bản đồ nước
Mỹ thì phải dùng loại bản đồ to như bức tường, dò ở góc Tây Bắc, phiá gần biên
giới Canada. Nếu không thấy cái chấm bé tí nào ghi là Bellingham
thì có thể tìm vị trí thành phố Vancouver ở Canada rồi dò xuống phía nam tìm
thành phố Seattle của Mỹ, vẽ một đường nối hai thành phố này, rồi chia đoạn đường
làm hai, rồi dùng trí tưởng tượng mà hình dung ra chỗ tôi ở, đâu đó ở giữa đoạn
đường men biển ấy. Nếu vẫn không hình dung ra được, thì cứ kêu lên: xứ gì nghe
như Chắc Cà Đao xứ mình! Thì đúng vậy.
Tôi khoe cái sự hẻo lánh của Bellingham để chứng minh cho câu nói cổ điển: “dưới gầm trời này,
ở đâu có khói là có người Hoa.” Khói trong câu này theo tôi hiểu là khói bếp,
khói do con người tạo ra, chứ không phải khói do núi lửa phun hay cháy rừng tự
nhiên. “Ở đâu có khói” nghĩa là ở đâu có con người sinh sống, và con người đó
ít nhất cũng đã đạt tới trình độ văn minh biết xài lửa. Khói bếp cũng là biểu
hiện của gia đình, của no ấm, bình yên. Người nào đã từng sống ở nông thôn, thưở
nhà nhà còn xài củi, rơm, lá khô đun bếp, sẽ suốt đời nhớ thương làn khói bếp
vương vấn trên mái nhà, và đi đâu về đâu, hễ chiều tà thấy loáng thoáng khói
sương là chạnh nhớ nhà.
Ở Bellingham từ lâu rồi người ta không đun bếp bằng củi, nhưng mùa
hè người ta thường bày lò nướng bằng than ngoài vườn, khói bốc lên kèm theo mùi
thơm thịt nướng tẩm gia vị. Mùa đông có nhiều nhà thích đốt lò sưởi bằng củi,
nên cũng có khói toả trên nóc nhà. Vậy có thể nhảy vô kết luận là ở Bellingham nhất định có người Hoa không? Theo thống kê dân số năm 1890 thì ở Whatcom lúc
đó có một người Hoa. Một người Hoa. Tại sao có một người Hoa ở đó? Người đó là đàn
ông hay đàn bà? Làm sao tới được nơi đó? Tới đó để làm gì? Sống ra sao? Tại sao
chỉ một mình, thân thuộc nguyên quán ở đâu? Rồi chết tại đó hay sau đó bỏ đi xứ
nào? Cái con số một không nói thêm điều gì khác hơn số một, duy nhứt, cô độc, lẻ
loi. Và “một người Hoa” ở Bellingham năm 1890 càng không nói lên điều gì nhiều
hơn một kiếp tha hương, lạc loài, vô hình vô danh vô phận nơi đất khách quê người.
Theo tờ báo địa phương
Bellingham Herald thì những người Hoa đầu tiên đến Bellingham vào giữa thế kỷ mười
chín, hầu hết là nam, làm phu hầm mỏ, phu đường rầy xe lửa, hay lao động trong
các nông trại, các tiệm giặt ủi. Đời sống của họ cơ cực, và có lẽ được đối xử
không khá gì hơn người da đen, có thể tệ hơn. Họ là những người ly hương vì quê
nhà đang loạn lạc, lũ lụt, mùa màng thất
bát, đói kém. Có thể khi ký hợp đồng mộ phu đi Tân Thế Giới không ai ngờ là đất
trời bao la như vậy, và khi đã đặt chân đến bờ kia Thái Bình Dương, không ai biết
được ngày nào có thể qui cố hương. Mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm? Tưởng một đời cần cù lao lực là đủ gắn bó với
miền đất mới. Nhưng rồi những đạo luật bài trừ người Hoa ban hành vào những năm
1882 và 1885 cùng những cuộc bạo động, hăm doạ , và kiểm soát nhập cư gắt gao đã
đuổi hầu hết người Hoa ra khỏi Whatcom. Chỉ còn lại một người.
Cái chi tiết một người Hoa
duy nhứt ở góc trời Tây Bắc này vào một trăm mười bảy năm trước thường ám ảnh tôi
vào những ngày đông xám xịt mưa day dưa và lạnh buốt óc. Thời tôi ở Bellingham, trong thành phố còn có bảy trăm người Việt khác. Người
Hoa ít hơn, những cũng mấy trăm người. Ngoài ra còn có người Hàn (Korean) người
Nhật, người Phi-lip-pin, có cả người Lào, người Cam-pu-chia, Thái. Gộp lại cũng cả ngàn người “Á Châu” chìm lẩn
trong tổng số sáu bảy chục ngàn cư dân da trắng gốc Đức, Anh, Ái Nhĩ Lan và Bắc
Âu. Dù là một trong số “cả ngàn” người ấy,
tôi vẫn cảm thấy lẻ loi, vô hình, vẫn ý thức tính chất “thiểu số” của mình. Nếu
mà chỉ có một mình. Như một người Hoa duy nhứt ở Bellingham năm 1890? Con số một biến dần thành cái dấu hỏi ngày
càng to.
Một mình giữa một thế giới xa
lạ, giữa những con người khác giống, trong một nền văn hoá hoàn toàn khác biệt
với cái nôi văn hoá mình đã được sinh ra. Một mình trong cái “giới hạn” của khu
“phố Tàu” đã hoang vắng tiêu điều , như con cá trong cái chậu cạn, bơi tới bơi
lui, một mình. Nỗi ám ảnh dai dẳng và ngày càng sắc cạnh, thỉnh thoảng cứa vào
ký ức của tôi.
Lâu rồi tôi có gặp ở Chợ Lớn
một bà già người Hoa lủi thủi sống một mình. Bà lìa xứ khi mười mấy tuổi, bị bán
làm con ở cho một nhà giàu, theo gia đình đó sang Việt Nam, gần hết cuộc đời cúc
cung tận tụy trong ngôi nhà không phải nhà mình mà vẫn coi như nhà mình, chăm sóc
những người không phải gia đình mình, nhưng lại coi như gia đình mình. Đến khi
gia đình đó rời Việt Nam, bà ở lại. Bấy
giờ bà không còn gia đình, không có nhà
cửa, thậm chí không nói được tiếng Việt, không có một nghề mưu sinh. May mà Chợ
Lớn lúc đó, dù có phần tiêu điều sau khi hàng trăng ngàn người Hoa ra đi, vẫn còn
hàng trăm ngàn người Hoa ở lại. Ai đó cho bà tá túc, giúp bà vốn liếng để nấu một
nồi chè mè đen, để bà xách nồi chè và mấy cái chén con đi bán dạo trong xóm, để
những đứa trẻ xóm lao động được nghe chuyện Na Tra xuống biển Tôn Ngộ Không lên
trời trong khi nhấm nháp vị chè mè đen ngọt ngào thơm phức. Tôi rời xóm cũ khi
bà vẫn còn chiều chiều đi bán chè mè đen, hình ảnh cuối cùng của bà lưu trong ký
ức của tôi là bà ngồi giữa một bầy con nít. Bà đâu hẳn cô độc! Vậy mà mỗi khi
nhớ tới bà, tôi lại sờ sợ nỗi cô đơn, nỗi hãi sợ một mình ở đất khách quê người.
Lịch sử người Hoa di dân trên
khắp thế giới gần như lập lại lẫn nhau: ở nhiều nơi, họ được chào đón, rồi bị
xua đuổi, người trụ lại được gắn bó với địa phương và làm cơ sở tiếp đón đợt di
dân mới, lúc thăng lúc trầm trong suốt thế kỷ, trong nhiều thế kỷ, kinh nghiệm
sống còn và hội nhập được tích lũy nhiều tầng nhiều lớp. Đó là kinh nghiệm mà
nhiều dân tộc, nhiều cộng đồng khác trong thế giới luôn chuyển dịch và cạnh
tranh quyết liệt này rất muốn chia sẻ.
Ở Bellingham bây giờ, người Việt đông hơn người Hoa nhưng không có
một trường Việt ngữ hay một tổ chức văn hoá nào kết gắn được mấy trăm gia đình
trong cộng đồng này. Nhưng cộng đồng người Hoa có trường Hoa Mỹ dạy tiếng Hoa
cho con em họ và cả trẻ con không phải người Hoa. Tết Trung Thu, Tết Nguyên Đán,
Nguyên tiêu, người Hoa ở Bellingham đều
có hoạt động văn hoá, dù là một buổi đọc sách dăm bảy người tham dự ở thư viện
công cộng hay một đêm trình diễn ca muá nhạc ở sân khấu ngoài trời trong công
viên. Trong cộng đồng họ, thiệt kỳ lạ, luôn có những con người ngoài việc mưu
sinh cầu lợi cho cá nhân và gia đình, còn tự đeo gánh trách nhiệm với cộng đồng,
lấy sự đoàn kết và phát triển của cộng đồng làm mục tiêu hay ý nghĩa của cuộc sống.
Phải chăng , bằng kinh nghiệm
lưu lạc và cái giá phải trả cho kinh nghiệm đó, những người Hoa sống tha hương không
thể ngừng, không lúc nào ngừng bị ám ảnh bởi nỗi cô độc khủng khiếp khi mình chỉ
còn một mình ở đâu đó. Như một người Hoa ở Whatcom năm 1890.
Chợ Lớn, 2/3/2007