CHỢ TẾT

Một năm mười hai tháng tôi đi chợ một ngày, phiên chợ Tết. Em tôi dặn dò: đừng mua gì nữa, nhà sắm sửa đủ cả rồi. Tôi thật tình không định mua gì, chỉ đi cho vui lây cái náo nức nhộn nhịp của mọi người trong phiên chợ cuối  năm. Người ta nói đông vui như chợ Tết mà.

Ba tôi nói năm nào cũng vậy, chợ nào cũng vậy, có gì đâu mà coi. Thì đúng vậy, phiên chợ sáng ba mươi nào cũng rau trái, cá thịt, bánh mứt, hoa…, có thể thấy năm nay hàng hóa nhiều hay ít hơn năm ngoái một chút, sức tiêu thụ tăng hay giảm đi, do mức phát triển kinh tế trong năm qua cao hay thấp, v.v.. Người mua lẫn người bán vội vàng hối hả, cũng có kẻ tư lự lo âu, cũng có người hả hê thỏa mãn, có người cứ luôn tay thu tiền lèn chặt hầu bao, có người nắm tờ giấy bạc mỏng trong tay đắn đo không biết nên ưu tiên mua cái gì.

Năm nào tôi cũng đi chợ Tết, như người xưa đi coi hát tuồng, đào kép hát đã quen mặt biết tên, tuồng tích đã rành rẽ tình tiết lẫn chung cuộc rồi, mà vẫn xem. Chợ Tết là cả một sân khấu, nơi đó trong một buổi sáng diễn ra bao niềm hy vọng và ước mơ của một năm trời, cũng như nỗi âu lo và thất vọng sau một năm trời.

Ngoài rìa chợ thường có những người ở dưới quê lên bán hàng bông. Đậu que, bắp cải, cà chua, dưa chuột, khổ qua…Chị nhà quê khẩn khoản mời mọc: Mua giùm đi, trưa rồi sợ không về kịp chuyến xe chót, con cái  đang đợi ở nhà. Bắp cải của chị nhỏ quá, dưa chuột lại đèo. Em tôi  đã cảnh cáo rằng nó không thích trò chơi từ thiện, nó nói nếu dư tiền  thì cứ đem cho không điều kiện, chứ đừng có đi vét chợ mua những cà sâu cải héo về nhà hành hạ nó dọn dẹp cuối  năm, lòng nhân trước tiên là phải thương lấy em mình.

Tôi còn đứng ngần ngừ thì một bà cụ mặc đồ nâu sòng nhỏ nhẹ  nói với tôi: Xin cô cho chùa ít trái cà. Tôi hỏi  ra mới biết bà vãi đi xin đồ cho chùa ăn Tết. Chùa ở nơi hẻo lánh, chỉ có các ni cô với bà vãi, không nằm trong danh mục các thắng cảnh du lịch hành hương nên ít khách vãng lai. Tôi thực sự vui mừng nói: Bà lựa bao nhiêu tùy ý. Bà vãi ngồi xuống, sẽ sàng lượm mấy trái cà dập. tôi nói : Bà cứ lựa mấy trái tốt, mình mua mà, tôi trả tiền. Bà vãi ngước nhìn chị nhà quê nói: Lựa hết trái tốt rồi cổ khó bán lắm, nhà chùa ăn sao cũng được mà. Tôi hỏi bà cặn kẽ đường đi lên chùa. Chẳng phải tôi đã tặng bà một thúng rau quả dập, mà chính bà đã tặng tôi một câu chuyện hay.

Trưa , chợ tàn, tôi ôm một bó bông vạn thọ về tới nhà, ba tôi rầy: Mua chi bông rẻ tiền, tết nhứt chưng bông héo trong nhà xui xẻo. Em tôi ngao ngán: Lại thấy ai bán ế tội nghiệp mà mua chứ gì? Tôi ôm hoài bó bông trong lòng, nói một sự thật mà biết rằng không ai tin: Bà bán bông thấy tôi đi loanh quanh trong chợ cả buổi, đến trưa xuôi hai tay không đi về, mặt mày trầm ngâm, bà kêu tôi lại cho tôi bó bông này.

 

GIAO THỪA

 

Tôi dặn em tôi chừng nào  giao thừa đánh thức tôi dậy, rồi tôi đi ngủ. Khi tôi thức, em tôi giật mình thức theo. Đồng hồ chỉ đúng 12 giờ đêm trừ tịch, Không phải tiếng pháo đồng loạt rộ lên khắp thành phố đánh thức tôi dậy như mọi năm. Mà chính sự im vắng và làn hương trầm đánh thức chúng tôi. Ba  tôi đang cúng giao thừa. Món cúng bất di bất dịch bao năm, có thể bao đời, là  món chè bột báng nấu đường ngọt ngay. Tròn trịa, đông đúc và ngọt ngào. Cúng xong ba tôi đi chùa, tôi bắt chước người xưa khai bút. Hồi nhỏ trong lòng cũng hăm hở khai bút đầu năm lắm, nhưng thường không biết viết cái gì, ngồi  ngáp chừng hai chục cái trước trang giấy rồi đi ngủ. Lớn lên có kinh nghiệm rồi, biết chuẩn bị sẵn một đề tài, tới lúc khai bút chỉ việc viết ra mà thôi.

Nhưng rồi tôi nhận ra cái kinh nghiệm lúc đã lớn rồi  là một kinh nghiệm dở. Đêm giao thừa cặm cụi viết cái truyện hay bài thơ mình đã nghĩ từ trước, khiến tôi uổng phí bao nhiêu giây phút giao thừa thiêng liêng cho công việc “chép’ nhảm nhí ấy. Thực tế là những cái tôi viết trong những trường hợp đó không có cái nào  hay hết. Tôi trở lại là tôi hôì mười mấy tuổi, đêm trừ tịch một mình ngồi trước trang giấy trắng, nghĩ lan man đủ thứ chuyện trên đời, nhớ đến tất cả những người mình từng biết, những việc mình từng làm hoặc không làm, để mặc cảm xúc tràn lai láng, rồi cất tờ giấy hãy còn trắng tinh, hiểu một điều đơn giản rằng có những điều trong đời không nhất thiết phải viết ra.

 

MỒNG MỘT

 

Đường đi lên chủa phải qua đò. Nam thanh nữ tú ở ngoại thành lũ lượt qua đò vô thành phố chơi xuân. Nên đò vô thì đông ken chật chội, còn đò ra thì vắng vẻ, chỉ có tôi với hai ông bà già. Đò không đợi thêm vì cần qua gấp bờ bên kia để đón khách. Lên bờ tôi gần như chạy ngược chiều với dòng người trực chỉ hướng thành phố. Đường càng lúc càng gồ ghề, cuối cùng xe tôi hư. Người sửa xe bên đường hỏi xe hư như thế nào. Tôi nói tôi đâu biết, ông là thợ sửa xe mà. Ông làu bàu mùng Một gặp người nói giọng xóc hông như vậy thì xui cả năm, ông không thèm sửa, biểu tôi dắt xe đi chỗ khác chơi. Tôi mắc cười quá, vừa dắt xe đi vừa cười. Ông kêu lại hỏi tôi cười cái gì, từ đây đến hết con đường này gần 5 cây số, ông bảo đảm không có chỗ nào khác sửa xe, tôi tính dắt xe đi đâu mà cười ?

Trong khi ông già sửa xe, tôi ngồi  trong cái chòi lá uống nước. Trên vách bằng ván ép có mấy dòng chữ viết bằng than củi. đại khái như Hai Cụt thiếu  4000đ, Ba Ngón nợ 5000đ , v.v. Có một câu cùng nét chữ nhưng có vẻ được viết một cách nghiêm túc: Việc đời như nước sông trôi, chuyện qua rồi không có cách gì níu lại được.

Tôi trả tiền và hỏi đường đi tiếp. Ông già hỏi đi hỏi lại chùa gì, cam đoan là đi theo con đường tôi miêu tả thì không đi tới cái chùa nào hết. Tôi nói có lẽ chùa của ni cô với bà vãi nên ông không biết. Ông cười khà khà rằng nếu có một cái chùa toàn ni cô với bà vãi mà ông lại không biết sao? Tôi vẫn đi, hai bên đường những luống đất trơ ra màu nâu đen vì rau cải và hoa đã bị hái bán trước tết. Xa xa những cây so đũa đứng phất phơ. Hàng rào dâm bụt nhà ai nở hoa đỏ thắm, thỉnh thoảng lại gặp một cái ao bông súng nở tím ngát.

Khi tôi quay trở lại bến đò, ngang qua chỗ ông già sửa xe, ông hỏi tôi có gặp chùa không, tôi nói: Đi thì đến, tìm ắt gặp. Ông hỏi ở đâu. Tôi cười, đâu biết nói ở đâu. Qua sông, nắng tắt bên kia bờ rồi. Về tới nhà tôi viết dòng chữ đầu tiên của năm mới: Ngày xuân đi chơi vui quá.